2026/02/12



 NÊN LOẠI BỎ ĐÒN BÁNH TÉT MÀU MÈ RA KHỎI BÀN THỜ !

Nói thiệt! Hình như một vài người Miền Nam ngày càng trổ màu mè trong những món ăn mà bánh tét là nạn nhân thấy rõ.

Chúng ta lên án chuyện màu mè làm rẻ giá trị của chợ Bến Thành và Hồ Con Rùa, nhưng từ mấy năm qua người ta đã màu mè đòn đánh tét.

Bánh tét làm ba bốn màu nhìn nhức con mắt, nhìn rẻ tiền, xanh đỏ tím cam, rồi nhét nào là đậu xanh, thịt heo, hột vịt muối, hột điều, chà bông, lạp xưởng vô nhưn.

Trào lưu hột vịt muối như căn bịnh lây lan khắp các món ăn.

Mấy trăm năm, tại sao ông bà mình không bao giờ gài màu lá cẩm hay màu gấc vô đòn bánh tét? Là vì màu mộc của nếp mới và lá chuối mới là màu của bánh tét.

Chưa hết, ngày nay cột dây ni lông màu cũng xanh đỏ tím vàng, mà ba cái màu hoá học ni lông vô nước sôi nó không hề tốt cho sức khoẻ.

Ăn cái bánh tét màu mè, chứng tỏ tâm tánh màu mè, hời hợt.

Mang cái màu mè cải lương lên bàn thờ coi không đặng.

Bánh tét sao mà có tiếng ngon? Vì nó là nguyên bổn xưa của ông bà, là gói bằng dây lát, vỏ bánh không xào nước cốt dừa vô nếp trước để hai ba bữa gắt dầu. Rồi vỏ có màu xanh lá chuối mộc, tức là không có xanh đỏ tím vàng nhìn như bình bông di động như vài lò khác đang làm.

Bánh tét nguyên bổn nhưn chỉ là đâu xanh mỡ, chay , chuối hoặc ngọt, đòn bánh không quá bự, nó cứ roi roi đặng ăn không ngán.

Khi cuộc sống màu mè lên ngôi, bánh tét làm năm màu như tắc kè bông, nhét hột vịt muối, thịt chà bông tùm lum, dây ni lông, gói bự một đòn chà bá mà chúng ta vẫn ca ngợi bánh tét "như ngày xưa" thì có khi bị lên án cổ hủ.

Nhưng cái mộc thời đó mới là viên ngọc sáng lóa mà người ta thấy thương yêu quí giá vô cùng.

Bánh tét là bánh vua, bánh linh thiêng của người Miền Nam, cùng với bông mai.

Bánh tét có một địa vị đặc biệt vững chắc, bền sâu gốc rễ trong tâm khảm của dân Phương Nam. Bánh tét dài, tròn khác với bánh chưng vuông của Phương Bắc. Bánh tét tròn là tròn đòn, lại khác bánh dầy tròn dẹp kiểu Miền Bắc.

Chúng ta có lý do nói đòn bánh tét đã ra đời trong hoàn cảnh khác địa lý, chánh trị và văn hóa của hai miền.

Làm cho văn hóa, phong tục, ẩm thực khác biệt giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài là chủ đích của Đào Duy Từ và các Chúa Nguyễn trong quá trình độc lập.

Người Việt Đàng Trong cùng đùm bánh đòn từ Miền Trung đã theo lưu dân vô Nam Kỳ khai phá đất mới, cặp bánh đòn treo lủng lẳng trên cổ, trong dóng gánh là lương thực nuôi nhiều người.

Cái đòn bánh được tét ra bằng dây lát và có tên bánh tét ở đất Nam Kỳ chúng ta. Bánh tét là chỉ hành động xài cọng dây lát, nắm hai đầu tròng vô đòn bánh và tét từng khoanh tròn ra dĩa.

Và để nhớ gốc gác Trung Kỳ của lưu dân Ngũ Quảng, cha ông Nam Kỳ ta đã gọi là đòn bánh tét chứ không phải là cái bánh tét.

Nhìn đòn bánh tét trên bàn thờ ngày mùng 3 Tết là nhớ nhà, nhớ ông bà tiên tổ của mình rồi!

Nhìn đòn bánh tét là nhớ gác bếp, nhớ cái nồi bốc khói sáng rực lửa bên góc chái hè, bến sông nước lớn nước ròng, nhớ cái ghế đầu cao cao, nhớ cánh võng cót két của bà nội, bà ngoại và mùi bánh tét mới chín thơm khắp nhà.

Khi tét đòn bánh tét ra, hương thơm ngào ngạt.

Cái nồi nấu bánh tét của người Nam Kỳ có cái tên rất đặc biệt, là cái trả. Cái trả là cái nồi nấu bánh tét thuộc loại bành ky, bự kếch xù, bự chảng. Cái trả lớn hơn cái giạ đong lúa, tức là trả đựng hơn 40 lít nước. Trả thường bằng đất, sau này bằng gan hoặc nhôm.

Người Nam Kỳ mua trả chỉ để nấu bánh tét, nhiều nhà làm biếng một năm chỉ xài đúng dịp Tết, nấu xong gác lên dàn bếp cất năm sau xài tiếp. Có nhà đám giỗ siêng nấu bánh tét. Có gia đình có cái trả xài ba bốn đời vẫn còn nguyên.

Lá chuối để gói bánh ít, bánh tét, mùi lá chuối thơm phức làm cái bánh thêm quyến rũ tột cùng. Cái mùi lá chuối hăng hắc, mùi lá chuối khói bay nghi ngút khắp nhà.

Bánh tét gói bằng lá chuối và nhứt định phải là lá chuối.

Bánh tét ngon là nhờ nếp dẻo ngon, loại nếp ngỗng thượng hạng, rồi đậu xanh ngon, mỡ heo dòn được phơi nắng cho dốt dốt. Người gói mạnh tay xiết đòn bánh thiệt chặc và nấu vừa chín tới.

Đêm 30 tết giao thừa người Miền Nam không nấu bánh tét, người Miền Nam hấp bánh ít.

Nói lại và khẳng định, người Miền Nam không nấu bánh tét đêm 30 Tết!

Truyền thông của chánh quyền từ lâu khoái viết mặc định phong tục Miền Nam giống như Miền Bắc là nấu bánh tét đêm 30 thiêng liêng là sai bét. Họ cố tình áp đặt cho giống.

Phong tục nấu bánh Nam và Bắc khác nhau.

Văn hóa Việt Nam chỉ có người Bắc nấu bánh chưng đêm giao thừa, người Nam Kỳ không hề nấu bánh tét đêm giao thừa. Mùng 1 Tết trong phong tục người Miền Nam chưa ăn bánh tét.

Bếp lửa cháy đỏ rực, nồi bánh tét nghi ngút khói ở Miền Nam là của ngày mùng 2 kéo dài tới đêm mùng 2 và sáng mùng 3 Tết.

Là tại vì mùng 3 Tết người Miền Nam mới cúng bánh tét và ăn bánh tét trong lễ kiếu ông bà và cúng Tết nhà.

Nếu dân Nam Kỳ có nấu bánh đêm 30 Tết đêm giao thừa là nấu nồi bánh ít. Sáng mùng 1 Tết nhiều nhà dâng cúng lên ông bà bánh ít mới.

Bánh ít là thứ bánh rất được ưa thích ở Nam Kỳ chúng ta, Lễ Tết, giỗ quảy đều có mặt. Tục nấu bánh ít đêm 30 là thực tế của dòng họ nhiều người Miền Nam.

Trong bài ca cổ "Nấu bánh đêm xuân" của soạn giả Qui Sắc có nói rõ ràng:

"Cha!đốt pháo vũ rước ông bà trễ quá ha?

Bánh ít cô chín chưa cô hai?

Chưa! còn anh, Chùi lư gì tối hù mà chưa bóng vậy?

Hễ nồi bánh của cô chín là bộ lư của tôi bóng liền hà.."

Bài tân cổ tả thực cuộc sống bình dân Miền Nam nhiều lần nói lại đó là bánh ít.

Xin chép ra: "Tôi nấu bánh để rước ông bà về vui xuân ba bữa, chứ đâu phải để nằm cạnh bộ lư...đồng...

Nồi bánh ít của em chín, làm sao đúng dịp dâng lễ ông bà. Để cho trai tơ chùi lư và gái xuân nấu bánh, quì lâm râm khấn vái tổ tiên cho hai đứa mình tròn nợ tròn duyên và thương yêu nhau đến ngày đầu bạc. (Bánh ít nằm cạnh lư đồng ...(Hết trích dẫn)

Trên Thúy Nga PBN38 bài tân cổ "Nấu bánh đêm xuân" do Hương Lan & Chí Tâm ca đã tự ý sửa lời từ bánh ít thành "bánh ít, bánh tét, bánh chưng". Việc sửa lời này đã phản cảm lại phản "cách nấu".

Nếu dồn ba loại bánh như bánh ít, bánh tét, bánh chưng vô nấu là ra cái thứ gì vì bánh ít nói nấu nhưng thực tế là "hấp"còn bánh chưng và bánh tét là nấu trong nước.

Người Bắc thích nấu bánh chưng đêm 30 vì mùng 1 Tết họ cúng bánh chưng. Thời tiết Miền Bắc rất lạnh nên bếp lửa nồi bánh đêm 30 Tết là sưởi ấm, là tụ nhau lại chờ giao thừa.

Còn Miền Nam đêm 30 không lạnh lắm. Nồi bánh ít nấu nhanh gọn.

Lời cuối cùng:

Xin đừng đem ba thứ bánh tét màu mè lên bàn thờ! Màu mè làm tội tổ tông.

Bánh tét màu mè nhét nhưn tùm lum là bánh tét cải lương, nó chỉ có giá trị phục vụ cho những người màu sắc, có giá thì mắc nhưng không ngon, làm rẻ rúng tầm nhìn văn hóa Miền Nam.

Xin hãy chọn bánh tét màu nếp mộc xanh của lá chuối, cột dây lát đàng hoàng!

Cũng vài món đồ ăn Tết, nồi thịt kho nước dừa, đòn bánh tét, hủ củ kiệu, hủ dưa món, trái dưa hấu, bánh in, thèo lèo cứt chuột, những ánh mắt trẻ thơ trong vắt háo hức ngày xuân.

Đòn bánh tét dễ thương, lột lá, lấy cọng lác quấn xiết nó ra từng khoanh trên dĩa, mùi nếp, mùi lá, mùi nhưn đậu xanh mỡ thơm ngào ngạt.

Bắc Kỳ ăn bánh chưng cắt 8 miếng hình trụ nhọn, Nam Kỳ tâm tánh tự do thinh thang ăn bánh tét tét ra khoanh tròn tùy thích không đếm khoanh.

"Lao xao gió chướng về châu thổ

Tu hú hót chào Tết sắp sang

Ghé lại cồn bần, neo bãi hẩm

Ta bày mâm rượu tiễn năm tàn."

Ẩm thực là thưởng thức.

Bánh ít, bánh tét ngày nào cũng có. Nhưng ăn bánh ít, bánh tét ngày Tết lại ngon nhứt đời người.

Nam Kỳ mình có lịch sử thời vang danh, đỉnh cao của hào khí Lục Tỉnh. Chúng ta nguyện lòng giữ nó cho chặt bền hoài.


(✍️ Nguyễn Gia Việt)