2017/03/25



GIỜ CÒN ÐÂU…HỠI NGƯỜI ƠI?

(Bài thơ này được hai Nhạc Sĩ phổ nhạc cùng lúc)
Lời: Phượng Trần
Nhạc: NS. Huy Ðạt
Hòa âm: NS. Huy Ðạt
Trình bày: Cs Tâm Thư

Ðường chiều về Em lang thang
Ðưa bước chân lòng miên man
Hạt mưa rơi rơi nhạt nhòa
Nghe giá băng tim mù lòa

Ngày từng ngày trên lối qua
Hồn buốt đau cho tình xa
Thân xác buông xuôi rã rời
Còn lại chi cho cuộc đời

Nhớ chiều xưa Anh đón đưa
Vai sánh vai về dưới mưa
Lời yêu thương Ôi dịu dàng
Ðan tay nhau tình nồng nàn

Rồi bỗng xa xa ngàn xa
Lá vàng tuôn bao mùa qua
Thời gian buông trôi hững hờ
Cuộc tình vương sầu đợi chờ

Giờ còn đâu hỡi Người ơi
Mưa vẫn bay từng hạt rơi
Bước chân em buồn âm thầm
Mắt hoen cay hồn lặng câm

Giờ còn đâu hỡi Người ơi
Ta mất nhau trong cuộc đời
Bao dấu yêu nhớ ngàn sau
Tim khắc ghi mối tình đau

Giờ còn đâu hỡi người ơi?

PT
19.02.2016

(Nhạc 06.04.2016)

2017/03/23


 

Thơ: Yên Dạ Thảo
Nhạc: Đỗ Hải
Tiếng hát: Ngọc Mỹ
Hương Gió Chiều

Anh đi mòn chân đất
Khắp nẻo đường quê hương
Tìm hoa thơ rơi rụng
Mang về để mà thương

Mùa trăng thuyền ghé bến
Thăm em gái Sông Tiền
Hồn lạc về Sông Hậu
Xuân rót giọt ưu phiền

Hạ sang bông phượng đỏ
Rực nở trong nắng hồng
Anh, ve sầu vương vấn
Em, ấp ủ hoa lòng

Thu vàng hương hoa cúc
Nở rộ vườn nhà ai
Lòng anh có khắc khoải
Thương nhớ cánh hoa mai?

Đông về hơi sương lạnh
Đồng thơ nắng cô liêu
Thuyền neo nơi bến vắng
Sông thương, hương gió chiều…



Yên Dạ Thảo
18/03/2015

2017/03/21

Chiếc Lá.
0 tram h
Chiếc lá sân trường. Anh trao…Tôi cười, nghiêng con nắng đổ.
Chiếc lá e ấp trong tay. Chiếc lá mùa xuân xanh biếc.
Tôi ép chiếc lá vào trang vở như kỷ niệm đầu đời và lời tỏ tình vụng dại.
Thời gian trôi…tình học trò như sương…
Tôi quên đi chiếc lá sân trường. Quên đi trang vở ép và những bài thơ.
Sinh nhật tôi.
Nhận được thư anh…Những lời thăm hỏi vu vơ.
Hình vẽ chiếc lá dòng trang cuối, bên lời chúc tôi bình an.
Mùa thu nơi đây… mưa, lá rơi nhiều lắm…nhặt chiếc lá rơi, thả vào trong gió
Lá có buồn như tôi?
Chiếc lá, nụ cười và ánh mắt anh.  Dư hương còn đọng
Ký ức trở về, chuyện buồn vui tuổi nhỏ.
Chiếc lá ngày xưa màu xanh đã mất .
Tôi…anh…trôi theo dòng đời.
Tìm đâu…Chiếc lá sân trường một lần qua tay!

Trầm Hương Ptt


2017/03/18

ÁO XANH hay ÁO BAY...TRONG THƠ CỦA BÙI GIÁNG?
   
Bùi Giáng và hai câu thơ thủ bút của ông.

“ Biển dâu sực tỉnh giang hà,
Còn sơ nguyên mộng sau tà áo bay ”.

  Tình cờ đọc trong một quyển sách đã được phát hành trong nước về thơ của thi cuồng Bùi Giáng. Loạt sách được xuất bản ồ ạt sau khi thi sĩ họ Bùi mất. Không nhớ là bài thơ có tựa là gì. Nằm trong quyển nào! Chỉ nhớ rõ là hai câu cuối là:

" Biển dâu sực tỉnh giang hà
Còn sơ nguyên mộng sau tà áo xanh ".

 Vì không nhớ tựa chỉ nhớ hai câu trên nên gõ vào Google để tìm thì thấy hiện lên nguyên bài thơ có tựa là:

Áo xanh. 
Lên mù sương, xuống mù sương
Bước xa bờ cỏ xa đường thương yêu
Tuổi thơ em có buồn nhiều
Thì xin cứ để bóng chiều đi qua
Biển dâu sực tỉnh giang hà
Còn sơ nguyên mộng sau tà áo xanh .

( Nguồn Wikipedia )

      Hầu như tất cả các mục về thi ca của Bùi Giáng trên mạng mỗi khi có nhắc đến bài thơ này đều dùng chữ " ÁO XANH " làm tựa. Coi như khẳng định.
       Thật ra nếu không có thủ bút xác thực của thi cuồng Bùi Giáng thì chẳng bao giờ dám nêu vấn đề này ra. Nhưng xét thấy rằng hai chữ nằm ở cuối cùng của hai câu thơ trong tờ thủ bút, họ Bùi viết là: " ÁO BAY ". Có sự khác biệt với hai chữ cuối " ÁO XANH " nằm trong bài thơ có sáu câu tựa là " ÁO XANH " của Bùi Giáng được đăng ở Wikipedia, nên dùng tờ thủ bút này để đặt vấn đề xem sao.
     
Hình 02.  Nguyễn văn Hào. Chân dung Thi cuồng Bùi Giáng. Bút chì trên giấy. Cỡ 12.3cm x 17.4cm. Năm vẽ. 1980. Chữ ký đáy góc trái.
Hình 03.   Nguyễn văn Hào. Chân dung Thi cuồng Bùi Giáng.
Bút chì trên giấy. Cỡ 12.3cm x 17.4cm. Năm vẽ. 1980. Chữ ký đáy góc trái
 Hình 04.
Hình 05. Thủ bút của Bùi Giáng. Có ghi chú viết tại gia đình bé Hào.

Tôi có được ba trang thủ bút của Bùi Giáng viết trên hai tờ giấy học trò và hai bức chân dung vẽ bằng bút chì của một họa sĩ có ký tên áng chừng như là Nguyễn văn Hào. Tất cả do một người bạn sơ giao tặng cách nay đã khá lâu có dễ đã hơn 20 năm. 
     Cả 03 thủ bút của Bùi Giáng đều không có ghi năm tháng nhưng ở nơi hai tấm vẽ chân dung thì có ghi rõ là năm 1980 và người tặng có nói cho biết đó là chân dung vẽ nhà thơ Bùi Giáng. Cũng chưa rõ là hai bức chân dung này được vẽ vào cùng một thời điểm với những thủ bút của họ Bùi viết tại nhà bé Hào hay ở một thời điểm khác, nơi khác? Nhưng chắc chắn tất cả những vật phẩm đó tôi được tặng cùng một lúc, từ một người. Có điều mấy vần thơ này làm sau hay trước năm 1980 cũng là một thắc mắc...
       Trong ba tờ thủ bút. Có một tờ chỉ viết một mặt với hai câu thơ lục bát:
" Biển dâu sực tỉnh giang hà,
Còn sơ nguyên mộng sau tà áo bay ".

       Hai câu này Bùi Giáng viết bằng loại bút nỉ, mực xanh chứ không phải là nguyên cả bài gồm 06 câu như đăng trên mạng Wikipedia. Như vậy bài thơ " ÁO XANH " gồm sáu câu lục bát này chưa rõ xuất xứ: Cấp độ xác thực của nó? Thi cuồng họ Bùi đã viết ra hay do người khác ghi lại và như thế nó xảy trong trường hợp nào? Ở đâu?  Với cái tựa " ÁO XANH " của bài thơ là của Bùi Giáng đặt hay do nhà biên tập lấy từ hai chữ cuối bài thơ mà thành?!
       Xét về ý, cùng câu chữ nơi tổng thể sáu câu lục bát trong bài thơ có tựa " ÁO XANH " của Bùi Giáng. Ngoài cái tựa là  " ÁO XANH " lấy từ hai chữ cuối của câu cuối cùng bài thơ. Xem ra toàn thể bài thơ không hề thấy có chút ý gì hay chữ nào cho thấy thi cuồng họ Bùi nói về chiếc áo cả. 
      Nếu như hai chữ " ÁO BAY" đem thay thế hai chữ " ÁO XANH " để cho đúng với nguyên gốc của tác giả thì bài thơ này còn nên giữ cái tựa " ÁO XANH " nữa hay không? Đó là những điều mà chúng ta cần xem xét lại. Trừ trường hợp chứng minh được rõ ràng bằng văn bản, hay thủ bút là cái tựa " ÁO XANH " do Bùi Giáng đặt.
      Có lẽ ai cũng biết. Trong thi ca đôi khi chỉ một vài chữ nó  làm cho tác phẩm trở nên trác tuyệt hơn hẳn... 
   Và " ÁO BAY " hay " ÁO XANH ". Cái nào Bùi Giáng hơn? Ta thử xét từng câu.   

Câu 01. " Biển dâu sực tỉnh giang hà..." 
             Tác giả muốn nói đến một trạng huống biến động đột ngột có dính dáng đến sông nước. " Biển dâu ". Một điển tích xưa nói đến một sự biến đổi. " Sực tỉnh ". Trạng huống xảy ra đột ngột làm cho giật mình. " Giang hà ". Chỉ về sông nước. 

Câu 02. " Còn sơ nguyên mộng sau tà áo bay.."
            Câu này cho thấy một trạng thái hiển lộ, phơi bày ra một cái gì đó khi tà áo bị hất tung lên. 
      " ÁO BAY ". Được xem như là một hình thái " động " của chủ thể, cộng hưởng với cái " động " của câu trên... đã làm tăng thêm cường độ Bùi Giáng trong chất thơ của ông...
         Câu: " Còn sơ nguyên mộng sau tà áo xanh ". Theo tôi nó không liền mạch với trạng thái hoàn toàn " động "của câu trên. Bởi những chữ "...sau tà áo xanh ". Nó chỉ cho ta thấy đang ở trạng thái tĩnh hoàn toàn.
      
      Hai câu thơ này có thể hiểu. Đại để là họ Bùi đang đi lang thang, nghêu ngao trên đường. Bất chợt một cơn gió ập đến hất tung tà áo và lộ ra cái " sơ nguyên mộng " của cô gái đi ngược chiều làm cho thi sĩ nhà ta sảng hồn cảm xúc ứng khẩu thành thơ và được ghi lại bởi chính tác giả tại nhà bé Hào....

        Tóm lại. Tổng thể ý tưởng của hai câu đều chứa đựng một hành vi biến động đột ngột, hiển lộ của vật chất trong cõi người ta, chúng bổ sung cho nhau rất tuyệt. Một tâm ý rất Bùi Giáng nếu ai đã từng nghe ông đứng giữa đường hay giữa chợ chửi rủa Nguyễn Du không tiếc lời với ngôn ngữ Bùi Giáng vì cái tội làm thơ lục bát quá tuyệt... Đôi lúc với những lời phát ngôn hóm hỉnh, trơ tráo làm cho các bà các cô phải đỏ mặt vội vã...bước nhanh vẫn không kịp. Những tình huống như thế này rất ý vị và không bao giờ còn nữa....Tất cả đã vỡ òa vào chốn hư không...của nỗi nhớ. 
       Như vậy! Nếu dùng hai chữ " ÁO XANH " thì có chuyển tải hết được cái ảo diệu của ngôn ngữ, cái tâm ý ngàn thu... rớt hột của thi cuồng họ Bùi không?
      Mục đích chính là tìm căn nguyên của sự việc... nên đặt vấn đề. Cái nào đúng! Cái nào sai? Có cần đính chính lại theo thủ bút của họ Bùi hay cứ để như vậy?  Rất mong được sự chỉ giáo của các học giả...

Trân trọng.
Cauminhngoc.

2017/03/15


Ánh Mắt

Tôi, con trai, cũng có tình đầu đời vụn dại
Tỏ tình bằng ánh mắt ngây thơ
Bởi mắc cỡ nên gởi đến người con gái
Với dáng nhìn vu vơ.

Ánh mắt không như chiếc lá, cánh bông
Để người ta ép vào tập vở
Ngờ ngợ… mong ánh mắt vào lòng
Nằm yên góc nhỏ…

Tình vụn dại không thành nhưng mãi mãi
Mặc thời gian qua trải dài
Theo đời trôi nổi
Tôi luôn mang kỷ niệm trên vai.

Anh Tú
March 15, 2017

2017/03/11

Giữa Dòng
Ảnh: Khánh Hà

Tàu đi rẻ nước đôi dòng
Tan rồi hơp giữa mênh mông vạn trùng
Biển đời tan tác lạnh lùng
Chia ly là mãi mãi không trở về
Bến mê bờ giác cận kề
Vô thường giả tạm cho tê đắng lòng
Ôi em nước mắt đoanh tròng
Để mình chìm lĩm giữa dòng cuồng lưu

Khánh Hà
February 2017

2017/03/09

Nguyễn Nhược Pháp 1914-1938
Chùa Hương*

(Thiên ký sự của một cô bé ngày xưa)

Hôm nay đi chùa Hương. 
Hoa cỏ mờ hơi sương 
Cùng thầy me em dậy . 
Em vấn đầu soi gương.
Khăn nhỏ, đuôi gà cao; 
Lưng đeo dải yếm đào; 
Quần lĩnh, áo the mới ; 

Tay cầm nón quai thao .

Mẹ cười: "Thầy nó trông ! 
Chưn đi đôi dép cong 
Con tôi xinh xinh quá ! 
Bao giờ cô lấy chồng ?" 

-- Em tuy mới mười lăm 
Mà đã lắm người thăm 
Nhờ mối mai đưa tiếng , 
Khen tươi như trăng rằm.
Nhưng em chưa lấy ai, 
Vì thầy bảo người mai 
Rằng em còn bé lắm, 
Ý đợi người tài trai.

Em đi cùng với mẹ 
Me em ngồi cáng tre
Thầy theo sau cưỡi ngựa, 
Thắt lưng dài đỏ hoe.

Thầy me ra đi đò, 
Thuyền mấp mênh bên bờ . 
Em nhìn sông nước chảy, 
Đưa cánh buồm lô nhô .
Mơ xa lại nghĩ gần. 
Đời mấy kẻ tri âm ? 
Thuyền nan vừa lẹ bước, 
Em thấy một văn nhân...
Người đâu thanh lạ thường ! 
Tướng mạo trông phi thường. 
Lưng cao dài, trán rộng. 
Hỏi ai nhìn không thương ?
Chàng ngồi bên me em 
Me hỏi chuyện làm quen: 
"Thưa thầy đi chùa ạ ? 
Thuyền đông giời ôi chen !" 

Chàng thưa vâng thuyền đông 
Rồi ngắm giời mênh mông, 
Xa xa mờ núi biếc, 
Phơn phớt áng mây hồng.
Giòng sông nước đục lờ. 
Ngâm nga chàng đọc thơ ! 
Thầy khen hay, hay quá ! 
Em nghe ngồi ngẩn ngơ . 

Thuyền đi, bến Đục qua, 
Mỗi lúc gặp người ra, 
Thẹn thùng em không nói : 
"Nam vô Ađi-đà !"
Réo rắt suối đưa quanh. 
Ven bờ, ngọn núi xanh, 
Nhịp cầu xa nho nhỏ. 
Cảnh đẹp gần như tranh.
Sau núi Oản, Gà, Xôi, 
Bao nhiêu là khỉ ngồi 
Tới núi con voi phục, 
Có đủ cả đầu đuôi.

Chùa lấp sau rừng cây, 
(Thuyền ta đi một ngày) 
Lên cửa chùa em thấy 
Hơn một trăm ăn mày.

Em đi, chàng theo sau, 
Em không dám đi mau, 
Ngại chàng chê hấp tấp, 
Số gian nan không giàu.

Thầy me đến điện thờ, 
Trầm hương khói toả mờ 
Hương như là sao lạc 
Lớp sóng người lô nhô.
Chen vào thật lắm công. 
Thầy me em lễ xong 
Quay về nhà ngang bảo: 
"Mai mới vào chùa trong".
Chàng hai má đỏ hồng 
Kêu với thằng tiểu đồng 
Mang túi thơ bầu rượu: 
"Mai ta vào chùa trong"
Đêm hôm ấy em mừng ! 
Mùi trầm hương bay lừng. 
Em nằm nghe tiếng mõ, 
Rồi chim kêu trong rừng.

Em mơ, em yêu đời 
Mơ nhiều... Viết thế thôi 
Kẻo ai mà xem thấy, 
Nhìn em đến nực cười.

Em chưa tỉnh giấc nồng, 
Mây núi đã pha hồng. 
Thầy me em sắp sửa 
Vàng hương vào chùa trong.
Đường mây đá cheo veo, 
Hoa đỏ, tím, vàng leo 
Vì thương me quá mệt, 
Săn sóc chàng đi theo.
Mẹ bảo :"Đường còn lâu 
Cứ vừa đi ta cầu 
Quan- thế- âm Bồ-tát 
Là tha hồ đi mau".

Em ư ? Em không cầu, 
Đường vẫn thấy đi mau 
Chàng cũng cho như thế. 
(Ra ta hợp tâm đầu).

Khi qua chùa Giải Oan 
Trông thấy bức tường ngang, 
Chàng đưa tay lẹ bút 
Thảo bài thơ liên hoàn.
Tấm tắc thầy khen hay 
Chữ đẹp như rồng baỵ 
(Bài thơ này em nhớ 
Nên chả chép vào đây).
Ôi ! Chùa trong đây rồi ! 
Động thẳm bóng xanh ngời 
Gấm thêu trần thạch nhũ, 
Ngọc nhuốm hương trầm rơi.
Mẹ vui mừng hả hê: 
"Tặc ! con đường mà ghê !" 
Thầy kêu mau lên nhé, 
Chiều hôm nay ta về.
Em nghe bỗng rụng rời ! 
Nhìn ai luống nghẹn lời ! 
Giờ vui đời có vậy, 
Thoáng ngày vui qua rồi !
Làn gió thổi hây hâỵ 
Em nghe tà áo bay, 
Em tìm hơi chàng thở ! 
Chàng ôi, chàng có hay ?
Đường đây kia lên giời 
Ta bước tựa vai cười, 
Yêu nhau, yêu nhau mãi ! 
Đi, ta đi, chàng ôi !
Ngun ngút khói hương vàng, 
Say trong giấc mơ màng, 
Em cầu xin Giời Phật 
Sao cho em lấy chàng.

(Thiên ký sự đến đây là hết. Tôi tin hai người lấy nhau, vì không lấy nhau thì cô bé còn viết nhiều . Lấy nhau rồi là hết chuyện).

Nguyễn Nhược Pháp

*Nguyễn Vỹ


Nguyễn Vỹ kể lại: "Bài thơ Chùa Hương là bài khá nhất trong tập thơ Ngày Xưa, có một lai lịch kỳ thú không ngờ. Chuyến đi Chùa Hương ấy, Nhược Pháp đi với tôi và hai cô gái nữa, đều là nữ sinh cả. Hai cô mang theo hai máy chụp hình, còn Nhược Pháp và tôi đều đi tay không. Trèo lên đến rừng mơ bỗng chúng tôi gặp một bà cụ vừa bước lên đèo, đường gồ ghề lởm chởm, vừa niệm: "Nam mô cứu khổ cứu nạn Quán Thế âm Bồ tát...". Cô gái quê có lẽ là con của cụ, cũng đang niệm câu ấy nhưng nửa chừng trông thấy chúng tôi là hai chàng trai nhìn cô trân trân thì cô bẽn lẽn làm thinh không niệm Phật nữa. Cô đang đọc: "Nam mô cứu khổ cứu nạn..." rồi cô im. Đôi má cô đỏ bừng, cô cúi mặt xuống. Hai đứa tôi hỏi cô: "Tại sao trông thấy chúng tôi, cô không niệm Phật nữa?" Cô gái quê có vẻ đẹp ngây thơ bỗng tỏ vẻ bối rối muốn khóc. Không ngờ hai cô bạn nữ sinh lên chụp được tấm hình hai đứa tôi đang hỏi chuyện cô gái quê, rồi có lẽ không bằng lòng chúng tôi nên hai cô lén đi trước, và đi lúc nào chúng tôi không hay biết, cũng chẳng nói năng gì với chúng tôi cả, bỏ chúng tôi ở lại với cô gái quê. Chúng tôi mê nói chuyện với cô này, một lúc sực nhớ lại hai cô bạn, chúng tôi vội vàng đi theo nhưng không kịp. Hai cô đã lên đến chùa Ngoài, rồi lên đến chùa Tiên Sơn, lẫn trong đám đông người, biến mất dạng. Đêm ngủ trong chùa Hương, sáng hôm sau ra về, chúng tôi mới gặp lại hai cô bạn đồng hành. Tôi phải xin lỗi mãi, nhưng Nhược Pháp cứ tủm tỉm cười không nói. Về Hà Nội, hai hôm sau, Nhược Pháp đem đến tôi bài thơ Chùa Hương, mà trong bản chép ra đầu tiên Nhược Pháp đề là Cô Gái Chùa Hương. Nhược Pháp lấy cuộc gặp gỡ lý thú của chúng tôi với có gái quê làm đề tài và tưởng tượng thêm ra, thành bài thơ đẹp, giọng ngây thơ, y như cô gái chùa Hương hôm ấy..."

2017/03/05

Phương pháp trị bịnh bằng cách DẬP BÀN TAY

Tiếng Buồn Trong Đêm

Chỉ còn là kỷ niệm
Ngày tháng đẹp xa xưa
Chỉ còn sợi nắng thưa
Tan trong chiều mưa lạnh!

Chỉ còn lại đêm xuân
Những bước chân ngập ngừng
Chỉ còn thoáng bâng khuâng
Vương hồn hoa tháng hạ

Chỉ còn chút hương thơ
Nửa chừng thu viết dở
Chỉ còn chút hương mơ
Thương gởi người tri kỷ

Chỉ còn giọt sương mai
Đọng trên cành đông trắng
Chỉ còn lại bờ vai
Tựa đầu khi thổn thức

Chỉ còn trong ngăn tim
Một thoáng tình êm ả
Chỉ còn lại trong đêm
Tiếng buồn rơi của lá

Chỉ còn ta đêm nay
Và tiếng mưa tầm tã…
Yên Dạ Thảo

2017/03/04

Làm Ngơ/Chỉ Một Thoáng/Nhặt Tháng Ngày
Thơ:
       - Làm Ngơ (Kim Oanh)
       - Chỉ Một Thoáng (Kim Oanh)
       - Nhặt Tháng Ngày (Kim Oanh)
Nhạc đệm: Robert VanHorne
Thực Hiện: Quýdenver

2017/03/01

Image result for cảnh đẹp thụy điển

Tưởng Như Còn Đó

Người đi rồi buổi chiều phai
Tôi về đường cũ tìm ai biệt mù
Trời đang mùa hạ hay thu
Mà xao xác gió mà âm u chiều
Một mình tôi với quạnh hiu
Tưởng như còn đó những chiều nào xưa
Một đời đã nói gì chưa
Ngàn điều đã nói sao chưa nói gì
Người đi thôi người đã đi
Hai giòng sông đã chia ly đời đời
Người đi rồi buổi chiều ơi
Sao tôi còn đứng trông vời ngẩn ngơ
Thôi người hãy cứ là thơ
Cho tôi còn một giấc mơ trong đời

Khánh Hà

2017/02/27

BƯỚC CHÂN BUỒN
Thơ: Yên Dạ Thảo
Nhạc: Nhược Thu
Hòa âm: Phan Thanh Hùng
Tiếng hát: Lệ Tuyền
Thực hiện: Yên Dạ Thảo

Bước qua thời áo trắng
Niềm mơ ước bay xa
Đời buồn như chiếc lá
Hồn tím tựa cánh hoa

Bước lên thuyền viễn xứ
Bỏ lại kỷ niệm thương
Xuôi dòng đời trôi nổi
Mang theo tình hoài hương

Bước vào bóng hoàng hôn
Thơ thẩn trên lối buồn
Ngược về miền yêu dấu
Tìm lại thoáng dư hương

Bước qua thời con gái
Cất lại mộng xuân nguyên
Khép chuyện tình hoa nắng
Vui buồn với phận duyên.

Yên Dạ Thảo
09/01/2015

2017/02/26

NHỮNG SÁNG MÙA ĐÔNG

Mấy tháng qua là của lạnh lùng
Đất trời u ám buồn mông lung
Cây trần trụi lá trơ cành xám
Hoa bướm đâu rồi? Ai nhớ nhung?

Rực rỡ hôm qua nắng chói chang
Xôn xao dưới phố lẫn trên ngàn
Niềm vui òa vỡ mừng Xuân sớm
Sai, đúng? Ơn trời! Hưởng lộc ban.

Sáng sớm hôm nay mờ mịt sương
Đông Xuân hòa hợp thấy mà thương
Gai gai hơi lạnh len áo khoác
Hạnh phúc chan hòa trong hạt sương.

Dẫu thế nào ngày mai xảy ra
Được còn thức dậy phước đời ta
Cám ơn dòng máu và hơi thở
Tay xá đất trời niệm Phật Đà!

Anh Tú
February 25, 2017

2017/02/24

*Ngày Đó*

Vừa gặp mặt em anh biết ngay
Suốt đời sẽ khổ kể từ đây
Làn môi mọng đỏ mời luyến ái
Đôi mắt mơ màng gọi ngất ngây
Mái tóc mượt mà đầy quyến rũ
Nụ cười e lệ ắp tình say
Đất trời thơm ngát hương nồng thắm
Xao xuyến hồn anh năm tháng dài.

Anh Tú
December 18, 2014

MẸ...*

Nửa chừng xuân.
Mẹ cõng trên lưng nghiệt ngã cuộc đời.
Tóc rối-môi khô-quảy lệch đường chiều mòn mỏi.
Ơi mẹ tôi !
Vì con trẻ-lặng lẻ giấu nổi buồn.
Vì con trẻ-mu bàn chân múm chặt xuống lòng đời.
Lầm lủi mưu sinh.
Hoàng hôn.
Lá sầu rơi hiu hắt.
Mãi miết dìu con.
Mảnh trăng tròn.
Vỡ toang móp méo.
Mảnh trăng tròn.
Khuyết nặng vai cong.
Mảnh trăng tròn.
Nhòe nhoẹt đơn côi.
Ơi Mẹ tôi !-chặng đường dài.
Liêu xiêu gần tới đích...
Con run tay- làm sao níu mẹ...mẹ ơi ??!

Đinh Lan
February 24, 2016
*Trích lời của tác giả:"... bài nầy em viết cho má chồng em-thật đến từng con chữ..."(Facebook)

2017/02/23


Image result for chờ đợi
Hồi Ức!

Rời bến người đã xa rồi
Mắt nhìn hun hút thuyền trôi chẳng ngừng
Sóng tràn cuốn cạn bâng khuâng
Nhận chìm xuân sắc mắt rưng rưng trào

Quay lưng người nhớ đêm nào
Nghĩa ân vàng đá ngạt ngào dư hương?
Xót chăng chiếc bóng canh trường
Hoài mơ kỷ niệm tơ vương ta mình?

Trả lời đi, sao làm thinh 
Lòng ngăn dạ cách chia tình giết tôi 
Ngỡ gần, tầm với xa xôi...
Ngùi trông nuốt lệ chôn hồi ức thương

Kim Oanh
7/1/2017

*Từ bài Bồi Hồi Phố Xưa của Anh Tú:

2017/02/22

Stretch Your Ring Finger With Your Thumb and Maintain For a Few Seconds. Reason You’ll Love!
In the following we’re going to present you what can happen if you stretch your ring finger with your thumb! You’ll be really amazed!
The positions of hands also called ”mudras” have had a very important role in the practice of yoga, that is the reason they are also known as “the producers of joy.”
This practice is explained by the huge amount of nerve endings containing our fingers so when they’re pressed in a specific way, they help us connect channels that allow energy circulating through the body.


1. Gyan Mudra for Healing ( Mudra of Knowledge)

How to do it:
Sit in a lotus posture and keep your hands on knee then touch thumb tip with your index finger tip and keep the remaining three fingers free.
Benefits:
-Improves concentration
-helps us relax
-treats insomnia
-treats depression


2. Vaya Mudra ( Mudra of Air)
How to do it:
Fold your index finger towards palms and press with the base of thumb. Extend the rest fingers.Benefits:
– eliminates excessive gas
– relives the problems associated with the air element such as: flatulence, constipation, arthritis etc.

3. Prithvi Mudra for Healing ( Mudra od Earth)

How to do it:
Touch the tip of your ring finger witg tip of thumb and then pressing the bth binger with each other. Extend the other fingers.Benefits:
– balance the element Earth in your body
– improves blood circulation
-improves digestion

4. Agni Mudra (Mudra of Fire):

How to do it:
Close the ring finger towards palm and press second phalanx with thumb base and rest of the fingers keep extend. Benefits:
-reduces cholesterol
-reduces fat
– improves the metabolism

5. Jal Mudra (Varuna Mudra/Mudra of Water)
Touch the little finger tip of thumb and don’t press the fingers and then keep the rest of the fingers straight like shown above picture)
Benefits:
-reduce body aches
-improves circulation
-reduce dryness of mouth


6. Shunya Mudra (Mudra of Emptiness)
How to do it:
Firs phalanx of your middle finger should be pressed with thumb base.
Benefits:
-reduce vertigo
-helps with ear, nose and tongue problem


7. Prana Healing (Mudra Mud rod Life)

How to do it:
Bend your little finger and ring finger then touch these two finger tips to tip of thumb.
Benefits:
-Energize your body
– boosts your immune system
– cure eye problems

source and courtesy: gofitstayfit.com


2017/02/20

Trả Em... 
Trả em 
ánh mắt nụ cười
dáng e ấp gợi mở lời sơ giao
Trả em 
tình ái ngọt ngào
đầu môi chót lưởi làm xao xuyến đời

Trả em 
ngày tháng rong chơi
Eden, Lệ Lợi… nơi nơi Sài Gòn
Trả em 
lời hứa sắt son
"dù sông có cạn đá mòn… còn thương"

Hợp rồi tan vốn chuyện thường
Trả cho nhau hết… vấn vương ích gì
Đường em chọn... hãy vui đi
Riêng anh gặm nhấm tình si lạc lầm!

Anh Tú
March 17, 2016


Bình Nguyên Lộc



Lời dẩn của Luong Vo:
Tôi là người gốc Triều Châu nhưng từ nhỏ đến lớn chỉ học tiếng Việt và chỉ giao du với bạn VN và ngay cả cái nhà tôi ở cũng ngay trung tâm thành phố (ngay trước Hội Đồng Xã Tân An - Cần Thơ) và xung quanh là nhà của các công chức VN. Vốn liếng tiếng Tiều của tôi lúc đó rất ít nhưng lớn lên, cho đến giờ tôi vẫn có một suy nghĩ: tại sao người ta gặp nhau hay hỏi "Anh khỏe không?", "How are you?" "你好嗎?" nhưng duy nhất thời đó người Triều Châu ở VN găp nhau lại hòi "食飯未?" (chẹ bừng quề) có nghĩa là "Ăn cơm chưa?"
Nghe bà nội tôi kể: hồi đó bên Tàu nghèo lắm, nhất là ở quê hương của bà, không đủ cơm ăn, một nắm gạo nấu nước, người lớn uống nước cháo, gạn xác cháo cho con ăn đỡ dạ. Có lẽ đó là lý do tại sao rất nhiều người Triều Châu bỏ nước ra đi làm cu-li hay bất cứ công việc vất vả nặng nhọc vì chỉ mong tìm chút tiền để gởi về giúp đỡ gia đình và cho đến bây giờ trên thế giới, doanh gia người Hoa thành công lớn và giàu có trong thương nghiệp, đa số đều gốc gác Triều Châu.
Sau tháng 4 năm 1975, thời gian đầu, không đủ gạo, gia đình tôi phải ăn cơm độn. Với anh em tôi thì không thấy gì, không để ý mà còn thấy lạ, còn thích nữa là đằng khác (có lẽ vì chưa đói qua) nhưng tôi thấy bà nội tôi khóc. Bà nói không muốn trở lại thời kỳ đói khổ bên Tàu, nhưng cũng chỉ tạm có mấy tháng rồi thôi, không bao giờ có màn cơm độn lần nữa.
Tôi cho tới giờ vẫn còn bâng khuâng đó nên vẫn muốn tìm hiểu tại sao người Tiều ở VN gặp nhau hay hỏi "Ăn cơm chưa?" mà không bao giờ hỏi "Khỏe không?", vẫn không thấy gì giải thích đặc biệt trên mạng nhưng lại tìm được một truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc. Đọc hết câu chuyện trong bài viết, tôi cảm thấy nghẹn ngào, rưng rưng có lẽ nó bây giờ đã giải đáp dù cho chưa thỏa mãn nhưng cũng đáp ứng phần nào cho chút suy tư của tôi. Mời các bạn:

ĂN CƠM CHƯA ? (食飯未 ?)
của Bình Nguyên Lộc


Bà sơ rút nhiệt kế ra khỏi nách tôi, chăm chú đọc nhiệt độ, mặt lộ vẻ ngạc nhiên như không tin ở điều mà bà đọc thấy. Bà dòm mặt tôi, đoạn đọc lại một lần nữa.
Tôi đang hồi hộp vì đoán rằng có chuyện không hay thì bà đã nhảy ra khỏi phòng, làm cho tôi hốt hoảng đến cực điểm.
Tôi mắc chứng thương hàn, sốt mê man mấy tuần nay, vừa tỉnh lại chứng kiến sự bối rối của con người áo đen bé loắt choắt ấy, làm tôi ngỡ, tôi chết đến nơi.
Nhưng gương mặt tươi của bác sĩ Chaput hiện ra nơi khung cửa, giúp tôi an lòng lại ngay. Giờ ấy còn sớm quá, bác sĩ, chắc mới đến nhà thương, chưa kịp mặc áo choàng, còn vận thường phục.
Bà sơ theo sau nói:
- Hắn không còn nhiệt độ nữa, chắc hắn phải lạnh lắm, vì sự thay đổi đột ngột nầy, tôi cho hắn uống Potion de Todd, bác sĩ nhé!
- Phải đấy.
Đoạn bác sĩ hỏi tôi:
- Ông nghe thế nào?
- Như vừa tái sanh, thưa bác sĩ.
- Tốt! Mới nghe, tôi hoảng lắm,vì nhiệt độ xuống thình lình, có thể là triệu chứng của sự chảy máu ruột… nếu ông lén ăn gì.
Tôi cười, một cái cười héo hon của con người sốt liên miên hăm tám ngày, mà không ăn uống gì cả trong thời gian đó. Bác sĩ dặn thêm, trước khi rời buồng tôi:
- Vài hôm nữa là thèm ăn, nhưng phải nhịn, ăn là lủng ruột ngay. Ngoan lên nhé!
Quên nói rõ, là tôi mắc bịnh nầy trước chiến tranh, vào thuở mà loài người chưa tìm ra thuốc trị thương hàn. Nhà thương cứ để vậy, tiêm thuốc nâng đỡ cho trái tim khỏi lụy, rồi ai kháng chết được, thì sống, ai yếu lắm, là đi.


Như vừa được tái sanh! Tôi nói không quá lố lắm đâu. Vi trùng thương hàn phá rối sinh lý con người một cách kỳ lạ lắm. Tôi nghe yêu đời ghê hồn và dòm ra sân nhà thương tỉnh Bình Dương (bấy giờ là Thủ Dầu Một), tôi thấy khóm bông gừa, thứ bông hèn ấy, sao mà hôm nay lại đẹp lạ lùng.
Trưa hôm đó, bác sĩ Chaput khoe với tôi rằng, ở trại bố thí III, một con đồng bịnh với tôi cũng vừa khỏi. Ông ta sung sướng về chuyện ấy lắm,vì con bịnh các trại bố thí chết nhiều quá, khiến dân chúng hiểu lầm, nhà thương bỏ bê người nghèo khó. Sự thật, thì sở dĩ, số tử ở đó lên cao theo tỷ lệ, vì các con bịnh nghèo, thường để thật nguy kịch mới vào nhà thương và khi vào điều trị, không có người nhà theo để săn sóc, nhà thương chỉ vừa đủ người lo thuốc men thôi. Còn những sự săn sóc (rất cần) phải được người nhà lo lấy mới mong lành bịnh.
Tôi yêu đời, và cố nhiên, yêu kẻ đồng bịnh vừa khỏi cùng một lượt với tôi. Ba hôm sau, được nuôi dưỡng bằng nước xúp và bột Ý, tôi đã chống gậy đi được, và mục tiêu phiếm du đầu tiên của tôi là trại III.
Kẻ đồng bịnh với tôi là một cô gái Trung Hoa, hai mươi tuổi, con gái đang thì, cái ngực tất phải to, thế mà tôi trông cô ta xẹp lép như con khô hố. Cái mền cô ta đắp, như dán sát vào chiếu nhà thương.
Người bạn đồng bịnh với tôi, đi không được như tôi. Trong cơn nóng sốt không ăn, người nhà tôi có mua Sérum Glucosé cho bác sĩ bơm vào tôi, nhờ thế mà tôi không suy lắm. Con bịnh nghèo nầy, thì khỏi hưởng món xa xí phẩm ấy, mà nhà thương không sắm được, vì kém tài chánh.

Tuy nhiên, nhìn sơ cô gái, tôi cũng thấy là cô ta đẹp lắm. Hoa tàn kia mà còn mang dấu vết thời tươi thắm thay, huống chi đây chỉ là một đóa hoa thiếu nước lọ trong chốc lát thôi… Cứ theo người cùng trại với Á Lìl, thì cô ta là một đứa bé “mua”. Chú Xừng Hinh, chủ tiệm chạp phô ngoài chợ, năm xưa về thăm quê quán bên Tàu, gặp mùa lụt lội, đói kém, đã mua đứa bé ấy ba mươi đồng bạc. Bạc Trung Hoa với bạc Đông Dương thuở ấy tương đương giá với nhau, thì các bạn biết, con bé ấy rẻ là dường nào.

Chú Xứng Hinh cũng khá, xem Á Lìl như con chú, chớ nhiều thằng khác, nó nuôi những con bé “nước lụt” ấy cho đến thời trổ mã, bắt làm lụng cho bù với số tiền mua, rồi lại hưởng luôn chúng là khác.
Như chủ nó, Á Lìl là người Triều Châu. Phụ nữ Triều Châu để rìa tóc phủ lên trán, xem rất ngây thơ và có duyên. Họ lại đẹp người hơn tất cả các thứ người Trung Hoa khác. Á Lìl lại là gái dung nhan có hạng trong thứ người đẹp nầy, nên tình thương kẻ đồng bịnh của tôi, bỗng nhiên, tăng lên gấp bội, vì tôi mới có hăm ba tuổi.
Nếu như ở ngoài, chắc không bao giờ tôi nghĩ đến chuyện yêu một ả nô tỳ, cho dẫu là nó đang đẹp lộng lẫy. Nhưng ở đây, nó là con bịnh, đồng hạng với tất cả con bịnh khác.
Một ngày, tôi chống gậy xuống trại III đến hai lần, lần nào tới nơi, tôi cũng đứng lại nơi cửa trại, để thở dốc một hơi, rồi mới vào được.
Á Lìl đoán biết tình cảm của tôi đối với nó, nên lần nào, mắt nó cũng sáng lên, khi nghe tiếng gậy của tôi nện cồm cộp trên gạch.
Từ năm lên chín, mãi đến bây giờ, nghĩa là từ năm bị bán và đưa sang nước “An Nam”, con nô tỳ nầy chưa được ai nói ngọt với nó lời nào cả. Bây giờ, bỗng nhiên có một dân mặc bi-da-ma riêng, lân la thăm hỏi nó, thì làm sao nó không rưng rưng lệ sung sướng được.
Mặc dầu chỉ được uống nước cháo với đường hạ, con ở Á Lìl cứ càng ngày càng hồng hào ra. Con gái, dường như, có dự trữ trong người những sức mạnh gì như cứ chực vùng lên, không cần ăn gì cho bổ lắm, họ cũng cứ béo tốt ra.
Má Á Lìl cạn dần lên, trông ngon như hai trái đào ở bảy phủ Triều Châu mà Á Lìl thường ca tụng với tôi.
Trông Á Lìl, tôi nghĩ ngay đến những phi tần bên Tàu ngày xưa, cũng tuyển lựa trong đám dân “nước lụt” như vầy. Thì ra, con gái Trung Hoa, ngàn đời, vẫn đẹp và vẫn để mà tiếp tế cho các cung tần. Á Lìl sẽ làm bé chú chệt già đại phú nào đây, một ngày kia.
Hôm ấy, Á Lìl ngồi dậy được, nhưng còn phải ăn cháo hoa với hàm-yũu. Cháo với vị mặn giúp Á Lìl tươi tỉnh hẳn ra. Nó tiếp tôi bằng một bài hát gì đó, tôi không hiểu, nhưng rất thích nghe. Cái giọng mũi của người Triều Châu, khi hát lên, nghe líu lo rất dễ yêu, nhứt là dễ thương, nghe như là họ khóc cảnh sống lầm than của họ.



Á Lìl cắt nghĩa cho tôi biết rằng, bài hát ấy nói đến cái mặt trăng nho nhỏ và tròn tròn. Nó mới giải thích tới đó, thì người nhà chú Xừng Hinh mang cho nó một gàu-mên cơm. Mắt con Lìl sáng hơn là khi tôi mới vào thăm nó nữa. Tôi hỏi:
- Nhà đem cơm từ bao lâu rồi?
- Ngóa thèm quá, chỉ mới nhắn đem vô lần đầu thôi.
- Lìl không nên ăn cơm vội. Bác sĩ không có dặn gì sao?
- Bác sĩ nói tiếng Tây, ngóa đâu có hiểu. Bà Sơ biết chút ít tiếng Annam, dặn đừng cho ăn đồ cứng, ăn thì lủng ruột chết liền.
Á Lìl nói xong cười ngặt nghẹo, một hơi, rồi tiếp:
- Đời thuở nào, ăn cơm lại chết. Chỉ có không ăn cơm mới chết thôi.
- Lìl không hiểu, chớ ruột Lìl đã bị vi trùng làm cho mỏng lắm rồi đó.
Á Lìl lại cười một giây nữa, mà rằng:
- Bị thuốc của thằng Tây làm cho mỏng thì có. Thầy biết sao không? Hổm nay ông Tây chích cho ngóa chết mà ngóa không chết, nên ổng bỏ đói cho ngóa chết đó.
Á Lìl nói rồi vừa kéo gàu-mên cơm lại, vừa nói:
- Ăn cơn với ngừng (gừng) nấu dấm thì tốt lắm, như người Annam ăn với muối tiêu vậy mà, chết sao được.
Tôi bối rối quá. Hôm ấy có Má Mẹ, người cai quản các bà Sơ, từ Sàigòn lên Bình Dương thanh tra, nên bà Louise bận tiếp đón bà Mẹ Bề Trên ấy, không còn ai cho tôi cầu cứu để thuyết lý Á Lìl. Các thầy khán hộ thì đã dặn con bịnh cữ kiêng xong là nghe tròn bổn phận, không theo dõi họ để ngăn cản gì nữa. Còn tôi, tôi ngại một điều, mà cũng chẳng khỏi.
Khi tôi giựt lấy gàu-mêm cơm, thì Á Lìl giận dỗi trách:
- Cố lứ nói thương ngóa, sao không cho ngóa ăn cơm?
- Vì thương mới không cho ăn.
Thật thế. Nếu Á Lìl chỉ là một cô gái xấu xí, tôi cũng không nỡ để cho nó tự tử một cách gián tiếp như vậy. Huống chi trong mấy ngày vui mừng tái sanh ấy, tôi lại điên dại mà yêu đứa nô tỳ nầy.
Lìl cười gằn hỏi:
- Thương gì lại bỏ đói?
- Vì ăn thì chết ngay.
- Đời thuở nào, ăn cơm lại chết. Chỉ có không ăn cơm mới chết thôi.
Á Lìl lập lại câu hồi nãy, rồi khóc mùi mẫn.
Thật là em nhỏ, mất miếng ăn một cái là khóc bù lu, bù loa. Nhưng không sao, tôi sẽ dỗ em nhỏ, thì em nhỏ nín chớ gì.
Tôi định bụng như thế, nhưng tôi lầm.
Lần đầu tiên, tôi rờ đến Á Lìl. Tôi vuốt tóc trán nó và nói rằng:
- Lìl nín đi, rán nhịn, rồi vài bữa khỏi hẳn, tôi sẽ đưa Lìl đi ăn tửu lâu Triều Châu Đại La Thiên ở Chợ Lớn, có nhiều món ngon bằng một vạn thứ cơm gừng dấm nầy. Ở Đại La Thiên có chè thịt heo nè, có cù lao nè.
Nhưng Á Lìl cứ khóc, khóc như mẹ chết không bằng, lâu lắm nó mới nói được trong tấm tức, tấm tưởi:
- Ngóa nhớ tía má của ngóa quá. Tía má ngóa vì không có cơm ăn nên chết. Tía ngóa chết đi được một tháng, thì má ngóa bán ngóa cho Xừng Hinh lấy tiền mua gạo cho mấy em của ngóa ăn. Nhưng cả nhà ăn giỏi lắm được mười ngày, chắc rồi cũng chết hết. Cơm sao lại giết người? Không cơm mới nguy chớ!
Nghe Á Lìl nhắc tới nguồn gốc nó, tôi đau xót vô cùng. Cơm là giấc ác mộng của người Trung Hoa từ mấy ngàn thế hệ nay, cho đến đỗi họ gặp nhau, chào nhau bằng câu: “Ăn cơm chưa?”
Nhưng làm thế nào cho con bé dại dột nầy hiểu rằng, không cơm thì chết đã đành, mà có cơm, lắm khi cũng chết.
Vả, Á Lìl không cả quyết ăn vì thèm nữa, mà ăn để trả thù sự chết đói của cả nhà nó, thì làm sao mà thuyết phục nó được. Có lẽ nó đang nhìn cơm, mà nói thầm: “Ừ, ngày xưa, cha mẹ tao không có mầy nên chết, bây giờ gặp mầy đây, tao có dung tha đâu! Tao ăn cho sống dai, mặc kệ lũ nó bày điều, đặt chuyện”.
Biết nói làm sao cũng không xong, tôi xách gàu-mên mà đi; sau lưng tôi, Á Lìl chửi rủa om sòm bằng tiếng Tàu. Nếu nó mà rượt theo được, chắc nó một mất, một còn với tôi, để cướp cơm lại.
Chiều hôm ấy, tôi trốn luôn, đến sáng ngày hôm sau mới dám chống gậy qua trại III.
Á Lìl vắng mặt trên giường. Thấy tôi ngơ ngác tìm quanh, một bà lão vừa ho sù sụ, vừa nói:
- Nó chết đêm rồi thầy à, hồi năm giờ sáng, người ta đã khiêng nó xuống nhà xác.
- Trời ơi! Sao lại chết? Tôi giậm chân mà hỏi câu ngớ ngẩn ấy.
Người khán hộ ở đâu sau lưng tôi đáp hộ bà lão:
- Chảy máu ruột!
- Sao lại chảy máu ruột?
- Vì ăn!
- Trời ơi!
Bà lão ho, rồi lại nói:
- Thầy giựt cơm của nó mà trốn đi, thì chiều lại, người nhà nó đem cơm vô nữa. Nó ăn xong, tối lại kêu đau bụng, vằn vật tới khuya mới chết.

- Sao bà không mời bác sĩ dùm nó?
- Có, tôi có cho bà Sơ hay, bả có kêu thầy đây.
Bà chỉ vào thầy khán hộ, thầy ta lắc đầu thở ra và giải thích:
- Tôi có tiêm thuốc cho nó, nhưng không gọi bác sĩ...
- Sao vậy?
- Vô ích. Chỉ có sang máu mới có một chút xíu hy vọng cứu nó. Nhưng ai sẽ cho máu nó? Còn thuê người để lấy máu thì tiền đâu?
Là con trai, tôi không khóc được. Nhưng lòng tôi đã tơi bời như áo mục phơi dưới gió to. Đứng tần ngần giây lâu, tôi hỏi bà lão:
- Nó có nói gì hay không bà, lúc nó hấp hối?
- Có. Nó có kêu thầy...
- Kêu tôi? Có nhắn gì hay không ?
Nó kêu khóc rằng: “Thầy hai ơi, té ra, quả thật không cơm cũng chết, mà ăn cơm cũng chết. Ngóa nghèo dốt, biết đâu. Trước kia tía má của ngóa nghèo nên không ăn cơm, ngày nay ngóa nghèo nên không biết, hai lần đều chết. Thầy hai ơi, ở lại mạnh giỏi nhá!”
Tôi không còn là con trai nữa, nhưng tôi không khóc tiếc thương một cô gái đẹp. Tôi chỉ khóc vì một gia đình sống không tên, không tuổi bị thảm kịch cơm làm tuyệt nòi, chỉ còn một mống thôi. Mống ấy trôi dạt đi xa ngàn dặm, qua cái xứ có cơm nhiều nầy, mà lại cũng không thoát khỏi thảm kịch cơm.
Ngày nay, mỗi khi nghe một người Trung Hoa chào ai: “Ăn cơm chưa?”, tôi bâng khuâng nhớ lại mối tình yêu đầu và nao nao buồn mối tình thương đầu của tôi.

BÌNH NGUYÊN LỘC